Nhà thơ Vương Duy (Trung Quốc)
![]()
Vương Duy, tiếng Trung: 王维 (701-761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng. Ông cũng là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật giáo có Duy Ma Cật kinh, là kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho môn sinh. Vương Duy là người kính trọng Duy-ma-cật do ông có tên là Duy, tự là Ma Cật.
Tiểu sử
Năm Khai Nguyên thứ 9 (721) thời Đường Huyền Tông, Vương Duy đỗ tiến sĩ, nhận chức quan đại nhạc thừa, sau phạm điều cấm, bị khiển trách và phải đến Tế Châu làm tham quân[1]. Năm Khai Nguyên thứ 14 (726), ông từ bỏ quan chức, nhưng sau đó lại nhận chức hữu thập di[1], thăng tới giám sát ngự sử[1]. Năm 40 tuổi, được thăng lên điện trung truyền ngự sử. Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), An Lộc Sơn chiếm Trường An. Vương Duy bị An Lộc Sơn bức bách ra làm quan, nhưng sau không được như ý, ông đã lui về ở tại biệt thự Lam Điền, sáng tác thơ ca để biểu đạt lòng mình. Sau khi An Lộc Sơn thất bại, nhờ có em trai là Vương Tấn khi dó đang giữ chức quan cao nên Vương Duy được miễn tội và được phong chức thái tử trung doãn[1], sau thăng tới thượng thư hữu thừa[1], vì thế người đời còn gọi ông là Vương hữu thừa.
Bình luận
Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: "味摩诘之诗, 诗中有画; 观摩诘之画, 画中有诗" (vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi, dịch nghĩa: Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ. Đồng Kỳ Xương đời Minh thì cho Vương Duy là ông tổ của phong cách họa sơn thủy Nam tông (Nam tông họa chi tổ).
Tư liệu tham khảo thêm
Vương Duy 王維 (699–759), tự là Ma Cật 摩詰, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm. Do đó, Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Vương Duy tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ Vương Lý Phạm mến tài; đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại Nhạc thừa rồi bị giáng làm tham quân ở Tế Châu. Sau nhân Trương Cửu Linh làm Trung Thư lệnh, ông được mời về làm Hữu Thập di, Giám sát ngự sử, rồi thăng làm Lại bộ lang trung. Trong thời gian này, thanh danh của ông và em là Vương Tấn vang dậy Trường An. Sau đó đến lượt Trương Cửu Linh lại bị biếm, Vương Duy đi sứ ngoài biên ải và ở Lương Châu một thời gian. Khi An Lộc Sơn chiếm kinh thành, Vương Duy bị bức bách làm chức Cấp sự trung, sau khi bị câu lưu tại chùa Bồ Ðề. Một hôm An Lộc Sơn mở đại yến tại ao Ngưng Bích, có các nhạc công của Lê viên tấu nhạc, khiến mọi người cảm xúc rơi lệ. Vương Duy nghe bài ấy cảm thương làm bài thơ sau:
Ngưng Bích trì
Vạn hộ thương tâm dã sinh yên
Bách quan hà nhật tái triều thiên.
Thu hòe hoa lạc không cung lý,
Ngưng Bích trì đầu tấu quản huyền.
(Ao Ngưng Bích
Muôn hộ đau thương khói tỏa mờ,
Bao giờ quan lại được chầu vua ?
Hoa hòe rơi rụng cung thu vắng,
Ngưng Bích rền vang tiếng trúc tơ.)
Sau khi loạn yên, Vương Duy được tha tội và phục chức, chính nhờ bài thơ này, và nhờ có Vương Tấn, đang làm hình bộ thượng lang, xin giải chức chuộc tội cho anh. Về sau, Vương Duy làm đến chức Thượng thư hữu thừa.
Ông giỏi văn nghệ, ưa tiêu dao, nên tuy làm việc với triều đình nhưng vẫn thích nơi có cảnh quan yên tĩnh. Ông được gần vua, các cận thần và được quý trọng vì am hiểu văn chương nghệ thuật. Song trong lòng đã sẵn hướng về thiên nhiên nên thơ ông tả nhiều thú điền viên sơn thủy. Ông có một trang viên riêng cho mình, ở đó ông gảy đàn, thổi sáo và làm thi phú.
Ông để lại khoảng 400 bài thơ, trong đó có những bài thơ thời trẻ, bộc lộ tâm trạng của lớp tri thức có tài có chí không được dùng, sống trong cảnh hàn vi, còn bọn công tử quý tộc dốt nát lại giàu có, rong chơi xa hoa, trụy lạc.
Những tháng năm ở biên cương, thơ ông có tình điệu khẳng khái, hiên ngang, đề cao lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của những người lính canh giữ biên cương, sẵn lòng vì một triều đại đang mở mang, hướng tới thịnh vượng (Sứ chí tại thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành,...)
Thơ Vương Duy có một phần nổi bật quan trọng đó là thơ thiên nhiên. Do thú ưa thích một lối sống thanh tao, phong nhã, tâm hồn ông hoà nhập với cảnh sống thanh bình của làng quê yên ấm. Thơ ông miêu tả núi sông hùng vĩ, cảnh làm ruộng, gặt hái, lấy sự chất phác đôn hậu của đời sống dân chúng cần mẫn trên đồng ruộng làm nền. Thơ ông còn đắm trong tư tưởng hỷ xả từ bi của đạo Phật.
Thơ Vương Duy có phong cách riêng, có chất hùng tráng và thâm trầm. Tài thơ của ông giàu có ở cách thể hiện những đề tài khác nhau, việc miêu tả thiên nhiên tinh tế và đầy sống động. Ngôn ngữ thơ cô đọng và điêu luyện, phù hợp với những ý tứ sâu sắc, truyền cảm.
Ngoài tài thơ ra, Vương Duy còn sành âm nhạc, giỏi thư pháp và hội họa. Tranh sơn thủy của ông mở đầu cho lối họa Nam Tông. Người ta thường khen ông là: "Trong thơ có họa, trong họa có thơ" (Thi trung hữu họa, Họa trung hữu thi).
Ðối với Phật giáo đương thời, Vương Duy có địa vị cao trong Nam phái thiền tông. Người đời sau gọi ông là Thi Phật.
| 1. Đầu Đạo Nhất sư Lan Nhược túc | 31. Lạc Dương nữ nhi hành | 61. Tống biệt - Sơn trung tương tống bãi |
| 2. Đề hữu nhân vân mẫu trướng tử | 32. Lộc trại | 62. Tống biệt - Tống quân Nam Phố lệ như ty |
| 3. Đào Nguyên hành | 33. Lâm cao đài tống Lê thập di | 63. Tống Chu Đại nhập Tần |
| 4. Đáp Bùi Địch | 34. Lâm hồ đình | 64. Tống Kỳ Vô Tiềm lạc đệ hoàn hương |
| 5. Đáp Trương Ngũ đệ nhân | 35. Lão tướng hành | 65. Tống Lý thái thú phó Thượng Lạc |
| 6. Đăng Biện Giác tự | 36. Lương Châu tái thần | 66. Tống Mạnh Lục quy Tương Dương |
| 7. Điểu minh giản | 37. Lưu biệt Thôi Hưng Tôn | 67. Tống Từ Châu Lý sứ quân |
| 8. Ban tiệp dư kỳ 3 | 38. Liễu lãng | 68. Tống Trầm Tử Phúc chi Giang Đông |
| 9. Ca Hồ | 39. Mạnh Thành ao | 69. Tống Vi bình sự |
| 10. Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ | 40. Mộc Lan sài | 70. Tức phu nhân |
| 11. Câu Trúc lĩnh | 41. Nam mang | 71. Tân Di ổ |
| 12. Chước tửu dữ Bùi Địch | 42. Nạp lương | 72. Tây Thi vịnh |
| 13. Chung Nam biệt nghiệp | 43. Ngẫu nhiên tác kỳ 6 | 73. Tích vũ Võng Xuyên trang tác |
| 14. Chung Nam sơn | 44. Ngưng Bích trì | 74. Tương tư |
| 15. Dữ Lô viên ngoại Tượng quá Thôi xử sĩ Hưng Tôn lâm đình | 45. Phụng hoạ thánh chế "Tòng Bồng Lai hướng Hưng Khánh các đạo trung lưu xuân vũ trung xuân vọng" chi tác ứng chế | 75. Thanh khê |
| 16. Du Lâm ca | 46. Phụng ký Vi thái thủ bộ | 76. Thù Trương Thiếu Phủ |
| 17. Du Lý sơn nhân sở cư nhân đề ốc bích | 47. Quan lạp | 77. Thù Tri phiến |
| 18. Hạ nhật quá Thanh Long tự yết Thao thiền sư | 48. Quá Hương Tích tự | 78. Thiếu niên hành |
| 19. Hồng mẫu đơn | 49. Quá Thừa Như thiền sư Túc cư sĩ Tung khâu Lan Nhã | 79. Thu dạ độc toạ |
| 20. Hỷ đề bàn thạch | 50. Quy Tung Sơn tác | 80. Thu dạ khúc |
| 21. Hàn thực ty thượng tác | 51. Quy Võng Xuyên tác | 81. Trúc Lý quán |
| 22. Hán giang lâm diểu | 52. Sơn cư thu minh | 82. Vị Thành khúc |
| 23. Hiểu hành Ba Giáp | 53. Sơn thù du | 83. Vị Xuyên điền gia |
| 24. Hoa Tử cương | 54. Sơn trung | 84. Võng Xuyên nhàn cư |
| 25. Hoạ Giả Chí xá nhân "Tảo triều Đại Minh cung" chi tác | 55. Sơn trung ký chư đệ muội | 85. Võng Xuyên nhàn cư tặng Bùi tú tài Địch |
| 26. Hoạ thái thường Vi chủ bạ Ôn Thang ngụ mục | 56. Tạp thi kỳ 1 | 86. Văn Mai quán |
| 27. Kỳ thượng biệt Triệu Tiên Chu | 57. Tạp thi kỳ 2 | 87. Xuân dạ Trúc Đình tặng Tiền thiếu phủ quy Lam Điền |
| 28. Ký Sùng Phạm tăng | 58. Tảo thu sơn trung tác | 88. Xuân nhật dữ Bùi Địch quá Tân Xương lý phỏng Lã dật nhân bất ngộ |
| 29. Khốc Mạnh Hạo Nhiên | 59. Tặng Vi Mục thập bát | 89. Y Châu ca |
| 30. Khổ nhiệt hành | 60. Tống biệt - Hạ mã ẩm quân tửu | 90. Yên Chi hành |
Nguồn internet ( Tư liệu mang tính chất tham khảo )
Hoàng Anh Tuấn @ 16:43 25/09/2009
Số lượt xem: 1619
- Nhà thơ Vương Xương Linh ( Trung Quốc ) (25/09/09)
- Nhà thơ Thôi Hiệu (Trung Quốc) (25/09/09)
- Nhà văn La Quán Trung (Trung Quốc) (25/09/09)
- Nhà thơ Đường Bạch Cư Dị ( Trung Quốc ) (24/09/09)
- Thi Thánh Đỗ Phủ ( Trung Quốc ) (24/09/09)

